Đức Dudjom Rinpoche (1904-1987)
Dòng truyền thừa tôn quý

Đức Dudjom Rinpoche (1904-1987)

Lời huyền ký thiêng liêng

Lời huyền ký về Đức Dudjom Rinpoche

Urgyen Dechen Lingpa đã huyền ký rằng “trong tương lai tại Tây Tạng, ở phía đông Núi Chín Đỉnh, trong Phật độ thiêng liêng của Kim Cương Hợi Mẫu (Vajravarahi) tự sinh, sẽ có một hóa thân của Drogben, thuộc dòng dõi hoàng tộc, tên là Jnana. Các thiện hạnh của Ngài phù hợp với Kim Cương Thừa, dù Ngài hành xử khác thường, bất ngờ, như một cậu bé có trí thông minh phi thường.

Ngài sẽ hoặc khai mở Terma mới hoặc gìn giữ Terma cũ. Bất cứ ai có duyên với Ngài sẽ được đưa đến Ngayab Ling (Zangdok Palri).”

Chân dung trang trọng của Đức Dudjom Rinpoche
Đức Dudjom Rinpoche thời trẻ
Những vùng đất ẩn tàng

Sự đản sinh của Đức Dudjom Rinpoche

Đức Dudjom Rinpoche đản sinh vào năm Giáp Thìn (Mộc Long) của Chu kỳ Rabjung thứ 15 (ngày 10 tháng 6 năm 1904), trong một gia đình quý tộc tại tỉnh Pemakod ở đông nam Tây Tạng, một trong bốn “vùng đất ẩn tàng” của Đức Guru Rinpoche. Ngài thuộc dòng dõi hoàng tộc Tsenpo, là hậu duệ của Nyatri Tsenpo và của Puwo Kanam Dhepa, vua xứ Powo.

Thân phụ của Ngài, Kathok Tulku Norbu Tenzing, là một vị Tulku nổi tiếng của vùng Pemakod thuộc Tu viện Kathok. Thân mẫu của Ngài, hậu duệ của Ratna Lingpa và là người thuộc bộ tộc Pemakod địa phương, tên là Namgyal Drolma. Đức Dudjom Rinpoche luôn có mối liên hệ đặc biệt với Tu viện Kathok, như có thể thấy qua các tiền thân của Ngài: hóa thân thứ chín của Ngài là Dampa Dayshek (1122-1192), người sáng lập Tu viện Kathok, và hóa thân thứ mười lăm là Sonam Detsen, người đã phục hưng Tu viện Kathok.

Một lời hứa thiêng liêng

“Bất cứ ai có duyên với Ngài sẽ được đưa đến Ngayab Ling (Zangdok Palri).”

Lời huyền ký của Urgyen Dechen Lingpa

Bậc khai mở kho tàng

Nhân duyên tái sinh của Đức Dudjom Rinpoche

Ngài được công nhận là hóa thân của Dudjom Lingpa (1835-1904), bậc khai mở nổi tiếng của nhiều giáo pháp ẩn tàng hay “kho tàng” (Terma), đặc biệt là những giáo pháp liên quan đến thực hành Kim Cương Phurba (Vajrakilaya, Dorje Phurba), lên đến hai mươi mốt tập. Dudjom Lingpa từng có ý định đến miền nam Tây Tạng để khai mở vùng đất thiêng Pemakod, nhưng vì không thể thực hiện, Ngài đã huyền ký rằng vị kế thừa của mình sẽ sinh ra tại đó và sẽ tự mình khai mở vùng đất này. Za-Pokhung Tulku Gyurme Ngedon Wangpo, bậc trì giữ giáo pháp của Dudjom Lingpa, và Lama Thubten Chonjor xứ Ling đã đến Pemakod và tấn phong Ngài. Dần dần, các đệ tử của Dudjom đời trước đã đến đảnh lễ Ngài.

Tinh thông truyền thống

Quá trình tu học chuyên sâu của Đức Dudjom Rinpoche

Đức Dudjom Rinpoche đã tu học với những vị Lama xuất chúng nhất thời bấy giờ, khởi đầu với Khenpo Aten tại Pemakod. Ngài đã học nhiều kinh văn và luận giải, như Dom Sum (Tam Luật Nghi), Chod Juk, v.v. Lama Konrab kể rằng từ năm lên năm tuổi, Ngài đã bắt đầu khai mở Ter. Năm tám tuổi, Ngài bắt đầu học “Bodhicaryavatara” (Nhập Bồ Tát Hạnh) của Shantideva (Tịch Thiên) với thầy là Urgyen Chogyur Gyamtso, một đệ tử của đại sư Patrul Rinpoche (1808-1887).

Ngài đã tu học mười sáu năm với Za-Pokhung Tulku Gyurme Ngedon Wangpo và có những khai thị lớn về giáo pháp Đại Toàn Thiện (Dzogpa Chenpo). Từ Jamyang Khyentse Chokyi Lodro, Ngài nhận các giáo pháp Mật thừa (Gyud, Lung và Men-Ngag) của “Sangwa Nyingthik”. Ngài nhận thêm các giáo pháp Đại Toàn Thiện (Dzogchen) từ Jedrung Thinley Jampai Jungne (Dudjom Namkai Dorje) của Riwoche.

Thời niên thiếu, Đức Dudjom Rinpoche đã theo học tại các đại học tu viện lớn ở miền Trung Tây Tạng như Mindrolling, Dorje Drak và Tarje Tingpoling, cũng như ở miền Đông Tây Tạng, gồm Kathok và Dzogchen. Chính tại Mindrolling, Ngài đã trở về để hoàn thiện sự thấu hiểu về truyền thống Nyingma. Vì thế, từ vị Kim Cương Thượng Sư (Vajracarya) của Mindrolling là Dorzim Namdrol Gyamtso, Ngài đã học tất cả các nghi lễ, mạn-đà-la, thánh ca, vũ điệu và âm nhạc của Terdak Lingpa, cùng nhiều giáo pháp khác. Ngài còn thọ nhận toàn bộ giáo pháp của truyền thống Nyingma trong Phật giáo Tây Tạng từ nhiều bậc đại sư khác.

Từ Togden Tenpa, Ngài thọ nhận cả quán đảnh (wang) lẫn khẩu truyền (lung) của “Dzogchen Nyingtig Yabshi”, thuộc dòng truyền thừa của Đại Khenpo Nyoshul Lungtok Tenpai Nyima. Từ Jedrung Rinpoche của Riwoche, Ngài thọ nhận khẩu truyền “Kangyur”, “Dam Ngag Dzod”, mười bảy tantra “Sangchen Ngepai”, “Nyingthig Yabshi”, v.v., cũng như toàn bộ giáo pháp Đại Toàn Thiện (Dzogpa Chenpo). Ngài thọ nhận trọn vẹn và được xem là tâm tử của thầy mình. Từ Tulku Kunzang Thekchog Tenpai Gyaltsan, Ngài cũng thọ nhận nhiều giáo pháp sâu xa và quan trọng. Từ Ngagtsun Gendun Gyamtso, Ngài thọ nhận toàn bộ giáo pháp của Pema Lingpa, “Dzod Dun” tức Bảy Kho Tàng của Longchenpa (1303-1363), cùng nhiều giáo pháp khác.

Hơn nữa, từ Đại Khenpo Jamde, Pande Odzer (đệ tử của Mipham Rinpoche, 1848-1912), Ngài thọ nhận “Nyingma Kama”, các quán đảnh “Kagyed”, “Lama Gongdu” của Sangye Lingpa và “Sangwa Nyingpo” theo truyền thống Zur, cũng như chu kỳ “Osel Sangwa Nyingthig”. Ngài cũng thọ nhận nhiều luận giải tantra như các đại luận giải của chính Mipham, “Nyingthig Yabshi”, v.v. Ngài xem Khenpo Jamde là vị Lama có ân đức lớn thứ hai đối với mình và đã thọ nhiều giới Biệt Giải Thoát (Pratimoksha), Bồ Tát giới và Kim Cương Thừa giới từ Ngài.

Ngài cũng thọ nhận giáo pháp từ các bậc vĩ nhân là đệ tử của Đại Khenpo Nyoshul Lungtok Tenpai Nyima: Khenpo Ngawang Palzang, Chadral Sangye Dorje, Lama Urgyen Rigdzin, Kathok Chagtsa Tulku, Pulung Sangye Tulku và Gyurme Phendei Ozer, cùng nhiều vị khác. Ngài thọ nhận giáo pháp từ các vị ấy và cũng đã truyền dạy giáo pháp lại cho các vị.

Những chứng ngộ vĩ đại của Ngài

Hết sức nghiêm túc trong tu tập, Đức Dudjom Rinpoche đã đến một nơi bí mật tên là Kenpa Jong (hay Phuntsok Gatsel) và thành tựu pháp Dorje Phurba của “Dudjom Namchag Pudri”. Tại Buddha Tse Phuk, Ngài thực hành Tse-Drup (pháp tu trường thọ) và Tse-chang của Ngài đã sôi lên. Ngài còn nhận được những điềm lành khi thực hành “tâm tàng” (gongter) của Dudul Drollo. Khi ở Paro Tak-Tshang (Hang Cọp), Đức Dudjom Rinpoche đã khai mở lại “Pudri Rekpung”, “Tsokye Thugthig” và “Khandro Thugthig”, và Ngài đã ghi chép lại những phần chính. Tóm lại, tại tất cả những thánh địa quan trọng nơi Ngài tu tập, Ngài luôn có được các dấu hiệu thành tựu.

Các trước tác của Ngài

Đức Dudjom Rinpoche nổi tiếng khắp thế giới là một tác giả với vô số trước tác và một học giả uyên bác. Các trước tác của Ngài được tán dương vì kiến thức bách khoa về mọi ngành học Phật giáo truyền thống, bao gồm thi ca, lịch sử, y học, chiêm tinh và triết học. Là tác giả của những bài thơ đầy cảm hứng với vẻ đẹp cuốn hút, Ngài có biệt tài diễn đạt ý nghĩa và sự chứng ngộ Đại Toàn Thiện (Dzogpa Chenpo) với sự sáng tỏ trong suốt như pha lê.

“Toàn tập” (Sungbum) của Ngài gồm hai mươi lăm tập, nhưng vẫn chưa bao gồm toàn bộ trước tác của Ngài. Trong số những tác phẩm được đọc rộng rãi nhất có “Fundamentals of the Buddhist Teachings” (Nền tảng Giáo pháp Phật giáo) và “History of the Nyingma School of Tibetan Buddhism” (Lịch sử Truyền thống Nyingma của Phật giáo Tây Tạng), được Ngài soạn ngay sau khi đến Ấn Độ. Các tác phẩm này nay đã được Gyurme Dorje và Matthew Kapstein dịch sang tiếng Anh và do Wisdom Publications xuất bản. Vị đại diện tâm linh người Hoa của Ngài là Lama Sonam Chokyi Gyaltsan (còn gọi là Guru Lau Yui-che), với sự giúp đỡ của Ming-chu Tulku, cũng đã dịch sang tiếng Hoa, do Secret Vehicle Publications tại Đài Loan xuất bản.

Một phần quan trọng và lớn lao khác trong công trình của Ngài là việc hiệu đính, sửa chữa và biên tập nhiều kinh văn cổ và hiện đại, bao gồm năm mươi tám tập của toàn bộ Giáo pháp Kinh điển của truyền thống Nyingma (“Nyingma Kama”), một công trình Ngài khởi sự ở tuổi bảy mươi tư, cũng như Jamgon Kongtrul đã từng sưu tập các giáo pháp Terma. Thư viện riêng của Ngài lưu giữ bộ sưu tập thủ bản và sách quý lớn nhất bên ngoài Tây Tạng.

Vị Nhiếp chính của Đức Guru Rinpoche

Hoằng truyền Chánh Pháp

Là bậc duy nhất đã thọ nhận sự truyền thừa của tất cả giáo pháp hiện còn của truyền thống Nyingma vô cùng phong phú, Đức Dudjom Rinpoche đặc biệt nổi tiếng là một Đại Tertön (bậc khai mở kho tàng), với các Terma nay được giảng dạy và thực hành rộng rãi, và là bậc diễn giải hàng đầu của Đại Toàn Thiện (Dzogpa Chenpo). Thật vậy, Ngài được xem là hiện thân sống động của Đức Guru Rinpoche và là Vị Đại diện (Nhiếp chính) của Đức Guru Rinpoche trong thời đại ngày nay. Là Thầy của các bậc thầy, Ngài được các vị Lama Tây Tạng hàng đầu công nhận là người có năng lực và sự gia trì lớn nhất trong việc truyền đạt bản tánh của tâm, và chính đến Ngài mà các vị ấy gửi đệ tử của mình khi đã sẵn sàng cho sự truyền dạy “trực chỉ tâm” này. Đức Dudjom Rinpoche quả thật là thầy của nhiều vị Lama lỗi lạc nhất vẫn còn tại thế và đang hoạt động ngày nay.

Đúng như các bậc thầy của Ngài đã tiên tri, Đức Dudjom Rinpoche đã truyền bộ “Rinchen Terdzod” (“Kho Tàng Terma Quý Báu”) mười lần, bộ “Pedling Cho Kor” của Pema Lingpa ba lần, bộ “Kangyur” và “Nyingma Gyudbum”, pháp Drupwang “Kagyed”, “Jatson Podruk”, toàn bộ quán đảnh và khẩu truyền của “Nyingma Kama”, cùng với các giáo huấn theo truyền thống Terma của chính Ngài (“Dudjom Tersar”) và vô số giáo pháp quan trọng khác.

Địa bàn hoạt động chính của Đức Dudjom Rinpoche là ở miền Trung Tây Tạng, nơi Ngài duy trì truyền thống Mindroling, và đặc biệt là tại Pema Choling cùng các trụ xứ khác của Ngài ở vùng Kongpo và Powo thuộc miền nam Tây Tạng. Tại Pemakod, Ngài đã thành lập nhiều tu viện mới và hai học viện dành cho cả Gelong (tăng sĩ thọ giới) lẫn Ngagpa (hành giả du-già). Tại vùng Kongpo, Ngài đã trùng tu Thadul Buchu Lhakhang, và gần đó Ngài xây mới tu viện Zangdok Palri. Ngài cũng xây dựng mới trung tâm Mật tông Lama Ling.

Khi còn ở Tây Tạng, Đức Dudjom Rinpoche đã tuyên bố Đức Chadral Sangye Dorje Rinpoche là “Kim Cương Nhiếp Chính” (Dorje Gyaltsap) của dòng truyền thừa Dudjom Tersar. Hơn nữa, Đức Dudjom Rinpoche nổi danh khắp Tây Tạng nhờ những thành tựu tâm linh và trí tuệ rực rỡ, nhờ các hạnh nguyện Bồ Tát đầy từ bi, cũng như nhờ học vấn vô song trong mọi lĩnh vực nghệ thuật và khoa học truyền thống.

Sau khi rời Tây Tạng, Đức Dudjom Rinpoche định cư tại Kalimpong, Ấn Độ vào năm 1958, và sau đó tại Kathmandu, Nepal vào năm 1973. Vào lúc văn hóa Tây Tạng đang trải qua thời kỳ khó khăn, Ngài đã đóng vai trò then chốt trong việc phục hưng nền văn hóa ấy trong cộng đồng tị nạn, qua cả giáo huấn lẫn trước tác của Ngài. Ngài đã thành lập một số cộng đồng hành giả quan trọng tại Ấn Độ và Nepal. Tại Tsopema (Rewalsar), Ngài thành lập một trung tâm nhập thất; tại Darjeeling, Ngài thành lập Tsechu Gompa; tại Orissa, Ngài sáng lập Dundul Rabten Ling; và tại Kalimpong, Ngài sáng lập Tu viện Zangdok Palri. Gần Đại Bảo tháp Boudhanath, Nepal, Ngài cũng xây dựng Orgyen Dhonag Chöling Gompa. Ngài cũng tích cực khuyến khích việc nghiên cứu truyền thống Nyingma tại Viện Cao học Tây Tạng ở Sarnath.

Tại các nơi khác trên thế giới, Đức Dudjom Rinpoche cũng đạt được nhiều thành tựu to lớn trong các Phật sự. Ngài đã sáng lập nhiều trung tâm Pháp ở phương Tây, trong đó có Dorje Nyingpo và Orgyen Samye Choling tại Pháp, Yeshe Nyingpo và Orgyen Cho Dzong tại Hoa Kỳ. Trong khoảng mười lăm năm cuối đời, Đức Dudjom Rinpoche dành phần lớn thời gian giảng dạy ở phương Tây, nơi Ngài đã thiết lập thành công truyền thống Nyingma. Trong chuyến hoằng pháp vòng quanh thế giới đầu tiên vào năm 1972, Ngài đã viếng thăm trung tâm của vị đại diện tâm linh người Hoa của Ngài là Lama Sonam Chokyi Gyaltsan tại Hồng Kông, và cũng đến London theo lời mời của Ngài Sogyal Rinpoche.

Di sản qua gia đình

Đời sống gia đình của Đức Ngài

Đức Dudjom Rinpoche thị hiện là một cư sĩ tại gia có gia đình, và đã kết hôn hai lần. Người vợ đầu của Ngài là Sangyum Kusho Tseten Yudron; hai vị có tất cả sáu người con, gồm hai con gái và bốn con trai.

Người con gái cả, cố Dechen Yudron, sống tại Lhasa, Tây Tạng, nơi bà chăm lo Lama Ling, trụ xứ của Đức Dudjom Rinpoche tại Kongpo. Người con trai cả là Kyabje Dungsay Thinley Norbu Rinpoche (1931-2011), một học giả và bậc thầy Nyingma vĩ đại như thân phụ mình, đồng thời là thân phụ của Dzongsar Jamyang Khyentse Rinpoche đời thứ III. Thinley Norbu Rinpoche là hóa thân của Kunkhyen Longchen Rabjam, đồng thời là tái sinh của Tertön Drime Ozer, con trai cả của Dudjom Lingpa. Thời niên thiếu, Thinley Norbu Rinpoche đã tu học chín năm tại tu viện Mindrolling và thọ nhận nhiều giáo pháp từ nhiều bậc thánh vĩ đại khắp Tây Tạng, ngoài thân phụ của Ngài. Ngài đã cư trú tại Delhi và New York.

Người con trai thứ hai là Dola Tulku Jigmed Chokyi Nyima Rinpoche, chủ yếu thuộc dòng truyền thừa Sakya, và là thân phụ của Kyabje Dudjom Yangsi Rinpoche; Ngài qua đời tại Tây Ninh, Thanh Hải vào năm 2000. Người con gái thứ hai, Pema Yudron, sống gần Dola Rinpoche tại Gha Chiku Dho-Kham, Tây Tạng. Người con trai thứ ba, Pende Norbu, cũng là một vị tulku và đã qua đời tại Nepal. Người con trai thứ tư, Dorje Palzang, đi học ở Bắc Kinh vào cuối thập niên năm mươi nhưng không may đã bị sát hại trong cuộc Cách mạng Văn hóa.

Người vợ thứ hai của Đức Dudjom Rinpoche là Sangyum Kusho Rigdzin Wangmo, người đã kết hôn với Ngài khi cả hai vẫn còn ở Tây Tạng. Người con đầu lòng của hai vị là Dekyong Yeshe Wangmo, được công nhận là một hóa thân Dakini và được tin là hóa thân của Yeshe Tsogyal. Bà đã qua đời khi còn rất nhỏ. Những người con khác là Chimey Wangmo (con gái lớn thứ hai), Shenphen Dawa Rinpoche (1950-2018), và Tsering Penzom, cô con gái út. Đức Shenphen Dawa Norbu Rinpoche đã cống hiến trọn đời để truyền bá giáo pháp của thân phụ mình tại cả châu Âu lẫn Hoa Kỳ.

Đại Bát Niết Bàn

Sự viên tịch của Đức Ngài

Jamgon Kongtrul Lodrö Thaye, bậc đã sống một cuộc đời bao gồm Phật sự của một trăm vị tertön (bậc khai mở kho tàng), đã nói rằng Mopa Od Thaye (hóa thân tương lai của Đức Dudjom Rinpoche, vị Phật cuối cùng của Hiền kiếp này) sẽ có Phật sự của một ngàn vị Phật. Việc bậc vĩ nhân này sẽ thực hiện Phật sự của tất cả các đời trước và có nhiều đệ tử đều là nhờ năng lực Bồ-đề tâm và nguyện lực của chính Ngài. Cũng như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, dù đã giác ngộ, vẫn thị hiện huyễn hóa nhập diệt vì lợi ích của chúng sinh thế gian, Đức Dudjom Rinpoche cũng đã nhập Đại Bát Niết Bàn vào ngày 17 tháng 1 năm 1987.

Tiểu sử này được Tiến sĩ Nora Post cập nhật vào tháng 8 năm 2020, với những góp ý vô cùng quý báu của Lama Yeshi Phuntsok.

Tài liệu tham khảo

  1. [1] Một bản tiểu sử ngắn về Đức Dudjom Rinpoche là mục từ Rigpa Shedra Wiki đăng trên trang web Tersar.org của Yeshe Nyingpo và Orgyen Chö Dzong: https://www.rigpawiki.org/index.php?title=Dudjom_Rinpoche. Một bản tiểu sử trực tuyến ngắn khác về Đức Dudjom Rinpoche do Lama Yeshi Phuntsok của Quỹ Dudjom Troma biên soạn có trên trang web của quỹ (đường dẫn được đưa vào đây với sự cho phép ân cần của Ngài): https://dudjomtroma.org/lineage/
  2. [2] Nyoshul Khenpo Jamyang Dorje, “History of the Dzogchen Secret Quintessence, Life Stories of the Vidyadharas of the Lineage” (Lịch sử Tinh túy Bí mật Đại Toàn Thiện, Tiểu sử các Trì Minh Vương của Dòng truyền thừa), trong Terry Clifford, chủ biên (1988), The Lamp of Liberation: 1-5.
  3. [3] Gyurme Dorje, “His Holiness Dudjom Rinpoche (1904- 1987)”, trong The Middle Way, tập 62, số 1 (tháng 5 năm 1987): 25-28.
  4. [4] “His Holiness Dudjom Rinpoche 1904-1987”, trong Vajradhatu Sun, tập 8, số 3 (tháng 2/tháng 3 năm 1987): 1-3.
  5. [5] “The Passing of His Holiness Dudjom Rinpoche”, trong Snow Lion (Mùa xuân 1987): 3.
  6. [6] Phỏng vấn trực tiếp Bhakha Tulku Rinpoche tại Pharping (Yangleshod), Nepal ngày 18 tháng 9 năm 1997.