Lama Kelsang Nyima Rinpoche

Lama Kelsang Nyima (sinh năm 1967) chào đời vào ngày 15 tháng 6 theo lịch Tây Tạng, thân phụ là Khorta Tsetop và thân mẫu là Paldon, tại Tsaru, Doetoe, Amdo, Tây Tạng. Lama Nyima không có cơ hội học Pháp cho đến năm 1975, do những áp lực và hạn chế của chế độ Trung Quốc. Sau năm 1976, dù đã có phần nào tự do giảng dạy, nhiều vị thầy/đạo sư vẫn dè dặt trong việc giảng dạy, điều đó cũng dễ hiểu. Lama Kelsang quyết định rời Amdo và đến Ngari, thuộc vùng núi Kailish ở miền Đông Tây Tạng; Ngài đã gặp nhiều chướng ngại trên đường đi.
Vị thầy đầu tiên của Lama Kelsang tại Ngari là Wangthang Tulku, một vị lama thuộc dòng truyền thừa Drikung Kagyu tại Tu viện Gyandrak. Lama Kelsang đã hoàn tất các pháp tu sơ khởi với Wangthang Tulku, vị thầy cũng đã ban quán đảnh Troma Nakmo; sau đó Lama Kelsang Nyima bắt đầu tu pháp Krodikali. Về sau, tại Tsurphu, Lama Kelsang Nyima Rinpoche đã thọ nhận các quán đảnh và giáo huấn Amitabha (A Di Đà), Chenrezig (Quán Thế Âm) và Mitrugpa từ Lama Karma Dechen. Lama Kelsang đã đi nhiễu quanh núi Kailash một trăm vòng cùng với các thành viên trong gia đình. Ngài đã thọ nhận các giáo huấn Longchen Nyingthik, bao gồm giáo huấn Đại Toàn Thiện (Dzogchen) Trikchuk từ đại sư Golok Togdhen Rinpoche. Trong thời gian trì tụng thần chú tại Samye, Lama Kelsang đã thọ nhận khẩu quyết tâm yếu cùng các giáo huấn và gia trì khác từ Khenchen Jigmey Phuntsok.
Lama Kelsang đến Ấn Độ năm 1990 và đã hoàn tất khóa nhập thất ba năm về Tám Heruka (pháp do Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 truyền trao). Vị thầy hướng dẫn nhập thất của Ngài là Lama Khamtrul Rinpoche. Sau đó Ngài chuyển đến Nepal, nơi Dungsey Thinley Norbu Rinpoche đã truyền trao giáo huấn Richo cùng khẩu quyết tâm yếu thuộc Dudjom Tersar của Đức Dudjom Rinpoche. Lama Kelsang Rinpoche cũng đã thọ nhận quán đảnh Rinchen Terdzö từ Penor Rinpoche và khẩu truyền từ Shechen Rabjam Rinpoche. Ngài thọ nhận quán đảnh Rigdzin Düpa từ Chatral Rinpoche. Sau đó, khi trở lại Ấn Độ, vị ngakpa thành tựu Golok Lama Pema Tenpo đã truyền trao các khẩu quyết Đại Toàn Thiện (Dzogchen), mà về sau Lama Kelsang lại thọ nhận thêm một lần nữa từ Kyanchak Rinpoche. Quán đảnh, khẩu truyền và giáo huấn Troma được Lama Yeshi Dorje, một đệ tử của Kyabje Dudjom Jigdral Rinpoche, truyền trao. Tại Darjeeling, Lama Kelsang thọ nhận khẩu truyền Dudjom Tersar từ Dzongsar Khyentse Rinpoche. Năm 1997, Lama Kelsang Rinpoche đến khu định cư Tây Tạng tại Odisha, nơi Ngài thọ nhận quán đảnh Rinchen Terdzö từ Namkha Drimed Rabjam Rinpoche. Năm 2020, Ngài cũng thọ nhận khẩu truyền trọn vẹn các bản văn terma của Jatsön Nyingpo từ Gyalsey Rinpoche.
Sau khi Tulku Tsephel viên tịch vào năm 2010, Lama Sonam Tashi đã thỉnh ý cố Shenphen Dawa Rinpoche về người kế vị Tulku Tsephel. Sau đó, Lama Kelsang Rinpoche được tấn phong làm vị Viện chủ thứ 7 của Tu viện Dundul Raptenling. Trên cương vị Viện chủ, Lama Kelsang Rinpoche chăm lo cho tu viện bằng cách tham dự và chủ trì mọi buổi cầu nguyện và lễ hội tại tu viện.